| Thị trường cạnh tranh | ||||||||||||||||||||||||||
| Cà phê: Chất lượng sản phẩm là tiên quyết | ||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||
|
(VEN) - Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ USD mỗi năm, chiếm tỷ trọng lớn trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Dự kiến giá trị cà phê xuất khẩu đạt hơn 2 tỷ USD/năm có thể nằm trong tầm tay nếu chúng ta giải quyết tốt từ khâu thu hoạch đến khâu chế biến...
Phát triển nhanh
Với diện tích khoảng 500.000ha, lượng cà phê xuất khẩu hàng năm của Việt Nam tới hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ ước khoảng 850.000 tấn. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã đạt hơn 1 tỷ USD. Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - ca cao Việt Nam (Vicofa) ông Lương Văn Tự cho biết, WTO mang lại cho Việt Nam một “sân chơi” khổng lồ, với hơn 5 tỷ người tiêu thụ cà phê - ca cao, 95% giá trị thương mại thế giới và kim ngạch nhập khẩu trị giá 635 tỷ USD/năm. Trong khi đó, dự báo nhu cầu tiêu thụ cà phê trên thế giới mỗi năm tăng khoảng 2 triệu bao, dự kiến đến năm 2018, thế giới cần tới 140 triệu bao. Đây là cơ hội lớn cho ngành cà phê Việt Nam phát triển hơn nữa. Theo thống kê của Vicofa, chỉ hơn 10 năm, ngành cà phê Việt Nam đã có được những thị trường lớn, truyền thống. Các thị trường này nhập khẩu cà phê Robusta Việt Nam với khối lượng lớn và đều đặn, kể cả những năm khủng hoảng giá thấp và những năm giá cao. Ngành cà phê Việt Nam được cộng đồng cà phê quốc tế đánh giá cao về tốc độ phát triển nhanh và vườn cà phê Việt Nam đạt năng suất cao hàng đầu thế giới. Lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng trưởng trong những năm qua, đưa nước ta lên vị trí thứ hai thế giới trong số những nước xuất khẩu cà phê. Trong 7 vụ cà phê gần đây, thống kê 10 nước hàng đầu mua cà phê Việt Nam đã mua 4.283.511 tấn cà phê, bình quân mỗi vụ mua tới 611.930 tấn, chiếm thị phần 73,33%. Tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm Với những điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi đã làm cho cà phê Việt Nam phát triển nhanh và có những nét đặc trưng về mùi vị mà nhiều nước trên thế giới không có được… Tuy nhiên, qua cuộc khủng hoảng nguồn cung cấp thừa trên phạm vi toàn cầu vừa xảy ra, ngành cà phê Việt Nam bộc lộ nhiều hạn chế và phát triển chưa bền vững. Mặc dù đứng thứ 2 thế giới về số lượng xuất khẩu, song giá trị mặt hàng này chỉ đứng thứ 4-5 thế giới, do chất lượng hàng xuất khẩu không ổn định, kỹ thuật bán hàng và sự phối hợp chưa hiệu quả giữa các nhà xuất khẩu. Sự phát triển thiếu quy hoạch, cùng với việc phụ thuộc nhiều vào tập tục canh tác, thu hái, bảo quản và chế biến của người dân đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và giá trị mặt hàng cà phê xuất khẩu. Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đắk Lắk - ông Vân Thành Huy cho biết, các doanh nghiệp xuất khẩu có thói quen chào bán và xuất khẩu cà phê sơ chế theo tiêu chuẩn 13-5-1 (thuỷ phần, hạt đen vỡ, tạp chất…) với giá thường thấp so với thị trường cùng loại, cụ thể so với giá LIFFE (London) cà phê Việt Nam thấp hơn từ 120-240 USD/tấn, dẫn tới nông dân và nhà xuất khẩu Việt Nam bị thua thiệt lớn. Nếu chúng ta phấn đấu xuất khẩu cà phê sạch, chất lượng cao (tạp chất từ 0-0,5%, tính lỗi hạt và thuỷ phần không quá 12,5%) thì sẽ được cộng thêm từ 50-100USD/tấn, có nghĩa là sẽ thu thêm từ 50-100 triệu USD. Con số này không những nói lên về giá trị mà còn thể hiện rõ chất lượng, thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới. Để làm được điều này, theo các doanh nghiệp xuất khẩu, cần phải thống nhất hành động, thực hiện việc áp dụng quy chuẩn chất lượng đối với cà phê xuất khẩu. Bên cạnh đó nên ưu tiên đầu tư thiết bị công nghệ chế biến, giảm nhanh xuất khẩu cà phê chỉ qua sơ chế, tạp chất cao… Theo ông Đoàn Triệu Nhạn, Phó Chủ tịch Vicofa, ngành sản xuất cà phê đã đạt đến ngưỡng, với khoảng nửa triệu hecta cà phê, hàng năm cho ra khoảng 1 triệu tấn sản phẩm cà phê nhân xuất khẩu là phù hợp. Do vậy nên ngừng việc mở rộng diện tích trồng cà phê một cách tràn lan, thay vào đó là tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, để tạo giá trị gia tăng mới, hướng tới xuất khẩu bền vững./. TD-HA
|
||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||

