Chuyển bộ gõ
Ngoại lực thúc nội lực
Cập nhật lúc:  09:12 14/06/2012

Đầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng trong công cuộc tái cấu trúc kinh tế hiện nay.

Có thể rút ra nhiều bài học bổ ích và lý thú nhằm đưa nhanh kinh tế đất nước thoát khỏi tình trạng suy giảm hiện nay, nếu cầu thị nhìn lại hơn 25 năm hình thành và phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và 20 năm Chính phủ Nhật Bản cùng các nhà tài trợ quốc tế khác trở lại cung cấp ODA cho Việt Nam.   

Đầu tư nước ngoài thúc đẩy công cuộc đổi mới
Thực tế cho thấy, kinh tế Việt Nam đã mau chóng hồi sinh, vượt qua cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất (đỉnh điểm lạm phát trên 600%) diễn ra trong những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước và đã vươn dậy mạnh mẽ, lập nên những thành tựu mang tính lịch sử trong 20 năm đầu của công cuộc đổi mới (cao trào là những năm 1995-2005 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 7%/năm). Có được kết quả đó là nhờ Đảng và Nhà nước đã nhận ra bản chất của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; đã chủ động, tích cực thu hút nguồn vốn FDI, ODA và  “cởi trói” cho kinh tế tư nhân phát triển, đồng thời coi trọng đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước.  
Doanh nghiệp FDI – doanh nghiệp bản địa: Khoảng cách ngày càng xa
Sau hơn 25 năm hình thành và phát triển, tính đến nay, khu vực doanh nghiệp FDI đã chiếm hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp và cũng hơn 50% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu từ Việt Nam. Đặc biệt, kể từ lần đầu tiên, năm 2010 đến nay, không kể xuất khẩu dầu thô, kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI liên tiếp bỏ xa kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp nội địa (DN 100% vốn Việt Nam) cả về tốc độ tăng trưởng lẫn giá trị tuyệt đối. Cụ thể, năm 2010 khoảng cách này mới chỉ hơn 1 (một) tỷ USD, năm 2011 đã lên 5,4 tỷ USD và dự kiến năm 2012, mức chênh lệch này sẽ đạt trên 10 tỷ USD.
Rõ ràng, cùng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, sản xuất, kinh doanh của DN FDI tại Việt Nam nói chung vẫn không ngừng phát triển, trong khi thị phần của DN bản địa đang đứng trước nguy cơ suy yếu, thu hẹp Đơn cử như trong xuất khẩu cà phê, DN FDI đang chiếm tỷ trọng hơn 60% tổng khối lượng.
Đó là chưa đề cập tới những lĩnh vực khác, như du lịch quốc tế, giao nhận, vận tải hàng hoá đường biển…
Sơ lược tình hình nêu trên cho thấy, thời gian qua, nhìn chung, những DN Việt Nam (bản địa) chưa khai thác, tiếp thu tốt về chuyển giao công nghệ do FDI mang lại. Công nghiệp hỗ trợ hầu như chưa phát triển và FDI vào Việt Nam vẫn chủ yếu nhằm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua đầu tư gia công xuất khẩu. 
Chậm đổi mới cách tổ chức thực hiện dự án ODA
Đó được coi là một trong những hạn chế lớn nhất của tình hình FDI tại Việt Nam lâu nay. Còn trong thu hút nguồn vốn ODA kể từ năm 1992 đến nay, kết quả đã giải ngân được hàng chục tỷ USD thông qua triển khai thực hiện hàng chục dự án phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật. Nhờ đó, bộ mặt đất nước đã và đang ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp và hiện đại hơn. Song chất lượng hầu hết các công trình chưa đạt chuẩn đề ra và hầu như 100% dự án đều “cháy dự toán”, dẫn tới suất đầu tư cao vượt so với các nước trong khu vực. Một trong những nguyên nhân sâu xa của tình hình này là tổ chức thực hiện dự án yếu kém, kể từ khâu lập dự án đến khâu mở thầu và thi công…; đồng thời những phương thức quản lý hiện đại vẫn chưa được nghiên cứu ứng dụng như hình thức đối tác công – tư (PPP) hoặc chưa thu hút thành phần kinh tế tư nhân tham gia thực hiện các dự án ODA.
Không thể thiếu ĐTNN trong tái cấu trúc kinh tế
Công cuộc tái cấu trúc kinh tế hiện nay trước tiên tập trung vào tái cấu trúc đầu tư công, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và tái cấu trúc DNNN. Trong tái cấu trúc đầu tư công, không chỉ việc định vị chính xác những dự án dùng ngân sách nhà nước, mà quan trọng nữa là tổ chức thực hiện hiệu quả những dự án ODA bằng các hình thức đầu tư mới như PPP, bởi vốn ODA hiện chiếm gần 20% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, tính ra trong giai đoạn 2011 – 2015, mỗi năm cần giải ngân các dự án ODA khoảng 3 tỷ USD/năm.
Còn trong tái cấu trúc ngân hàng thương mại, các tập đoàn kinh tế tư nhân, và ngay cả trong đổi mới, sắp xếp và cổ phần hoá DNNN cũng không thể tránh né phương thức mua bán và sáp nhập (M & A), bao gồm cả M&A với doanh nghiệp nước ngoài (nhà đầu tư nước ngoài). Đây cần được xác định như một phương thức FDI kiểu mới (mới đối với Việt Nam).
Công cuộc tái cấu trúc kinh tế cần được coi là một đại dự án, trong đó yếu tố ngoại sẽ đóng vai trò quan trọng nói chung, mà trong tình huống cụ thể, dự án cụ thể, nó có thể đóng vai trò quyết định. Thiết nghĩ, như dự án đường sắt cao tốc Bắc –Nam, dự án KCNC Hoà Lạc… nếu không có đầu tư nước ngoài, chắc chắn, mọi ý tưởng đều chỉ ấp ủ trên giấy.
Đã chào, còn phải mời
Tuy nhiên, trước mắt nảy sinh không ít đòi hỏi cụ thể. Chẳng hạn để thực thi hiệu quả phương thức đối tác công – tư (PPP), đòi hỏi phải có những quy phạm pháp luật cụ thể và khả thi; hoặc để thực hiện phương thức M&A giữa DN Việt Nam với DN nước ngoài, cũng cần những quy định rất mới.
Hướng tới nền kinh tế xanh, công nghệ sạch, thân thiện môi trường… rất cần những dự án công nghệ cao. Song, nếu thiếu những quy chế cụ thể về ưu đãi đầu tư thì dù có hứa hẹn thiết tha đến mấy thì nhà đầu tư nước ngoài cũng chưa thể mặn mà. Nghĩa là chỉ chào mà chưa “thực mời bằng đũa, bằng bát” cụ thể thì họ chưa bỏ vốn vào đâu. Nhiều chuyên gia cho rằng, đây là cái thiếu lớn nhất ở Việt Nam hiện nay.
Khát vọng rất lớn, nhưng thiếu cái cẩm nang vững chắc cho nhà đầu tư. Bài học từ 25 năm trước là: Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam thời đó được dư luận quốc tế đánh giá là cởi mở nhất, thông thoáng nhất ở châu Á. Nhờ đó mà “COCA-COLA”  đã tưng bừng làm lễ vào Việt Nam ngay khi Luật đầu tư nước ngoài ra đời chưa ráo mực. Thực tế đó cho thấy, nếu thiếu đầu tư nước ngoài, kết quả của “công cuộc tái cấu trúc” sẽ bị hạn chế, bởi chính đầu tư nước ngoài đã và đang thúc đẩy và đòi hỏi công cuộc đổi mới ở Việt Nam vươn lên tầm cao mới./.
TS. Lưu Tiền Hải 


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại