Chuyển bộ gõ
Công Thương Việt Nam: Những chặng đường phát triển
Cập nhật lúc:  09:27 13/05/2011



(VEN) - Ngày 14/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 21/SL đổi tên Bộ Kinh tế thành Bộ Công Thương và Sắc lệnh số 22/SL thành lập Sở Mậu dịch Trung ương, với nhiệm vụ tổ chức việc buôn bán trong nước, trao đổi hàng hoá với nước ngoài và đấu tranh mậu dịch với địch. Đây chính là dấu mốc lịch sử của sự hình thành và phát triển của Ngành Công Thương Việt Nam.

Trưởng thành trong chiến tranh
Trải qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với bao gian truân vất vả, ngành Công Thương mới hình thành đã phải gồng mình vừa phục vụ cho kháng chiến vừa củng cố xây dựng đất nước. Trong thời kỳ chống thực dân Pháp, chính sách nội thương tự do đã khuyến khích các thương nhân giúp nhau phát triển kinh doanh tạo được sự giao lưu hàng hoá ở vùng tự do với vùng tạm bị chiếm. Phần lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp đ­ược xây dựng và phát triển trong thời gian này đều nhằm bảo đảm phục vụ nhu cầu của quốc phòng và một phần nhu cầu thiết yếu cho bộ đội và nhân dân. Trong những năm 1950-1951, quan hệ kinh tế-thương mại giữa nước ta và các nước cũng được chính thức hình thành. Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác đã công nhận và thiết lập ngoại giao với nước ta.
Trong những năm chống Mỹ, Bộ Công Thương được chia tách thành nhiều Bộ ngành khác nhau nhưng vẫn cùng chung nhiệm vụ là xây dựng miền Bắc XHCN và chi viện cho chiến đấu giải phóng miền Nam. Mặc dù miền Bắc nước ta bị thiệt hại nặng nề do bị địch đánh phá ác liệt song ngành Công Thương với nhiều gương tập thể và cá nhân anh hùng trên mọi mặt trận đã góp phần phục vụ đắc lực cho công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Trên phương diện kinh tế đối ngoại, ta thực hiện phương châm không ngừng củng cố và phát triển quan hệ kinh tế- thương mại với các nước XHCN, đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế- thương mại với các nước.
Công cuộc đổi mới
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cả nước tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa (CNXH), ngành Công nghiệp từng bư­ớc đ­ược khôi phục và phát triển. Thời kỳ này, hoạt động kinh tế đối ngoại cũng đã phát triển rộng hơn. Tháng 7/1978 Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế, tiếp theo tháng 11/1978, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác và Hiệp định hợp tác kinh tế dài hạn 10 năm. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn do thiếu thiết bị, nguyên vật liệu phụ thuộc khá lớn vào nư­ớc ngoài… Mặt khác, cơ chế kế hoạch hoá tập trung chậm thay đổi đã làm cho nền kinh tế n­uớc ta nói chung và ngành Công nghiệp nói riêng trở nên mất cân đối nghiêm trọng. Trong bối cảnh hầu hết các nước XHCN lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng bởi tác động của cuộc chạy đua vũ trang, tác động của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, nhưng không điều chỉnh kịp thời. Với bối cảnh trong nước và quốc tế đó, đòi hỏi tất yếu muốn tồn tại và phát triển thì phải có một cuộc cải cách thật sự trên tất cả các lĩnh vực của đất nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) là Đại hội mang tính lịch sử, tạo ra bước ngoặt cực kỳ quan trọng cho đất nước. Tại Đại hội này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức-cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác. Đại hội đề ra ba chương trình kinh tế lớn là lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, coi đó là mũi nhọn phát triển kinh tế trong thời kỳ mới.
Với chính sách đổi mới, hoạt động ngoại thương dần dần được mở rộng sang các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tiến tới tự do hoá xuất nhập khẩu.
Thả Rotor tổ máy 1 Nhà máy thủy điện Sơn La
Nhờ các chính sách và biện pháp khuyến khích xuất khẩu được thực hiện trong giai đoạn 1986-1989 đã có tác dụng tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, thu hẹp khoảng cách giữa kim ngạch xuât khẩu và nhập khẩu, đưa tỷ lệ 1 xuất khẩu 3 nhập khẩu năm 1986, xuống còn 1 xuất khẩu 1,3 nhập khẩu năm 1989. Bước sang thời kỳ 1990-1997, thực hiện chính sách xoá bỏ chỉ tiêu pháp lệnh và tiếp tục xoá bỏ chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, thoát dần ra khỏi cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, từng bước theo cơ chế thị trường.
Tháng 5/1997 Quốc hội Khoá IX đã thông qua Luật Thương mại, luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1998. Tiếp đó Chính phủ ra Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua, bán hàng hoá với nước ngoài. Sau đó, Nghị định được sửa đổi, bổ sung cùng với Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001-2005 là một bước tiến lớn trong tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường. Qua hơn 20 năm đổi mới, từ những thay đổi cơ bản trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu đã góp phần thúc đẩy tăng nhanh kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, tạo ra sự chuyển dịch thị trường theo hướng đa phương, phục vụ tốt cho sự phát triển sản xuất, phục vụ thuận lợi cho người tiêu dùng, mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư. Thị trường nội địa, từ chỗ không phát triển, hạ tầng kỹ thuật yếu kém, lưu thông hàng hoá ách tắc do cơ chế quản lý xơ cứng, đến nay, về cơ bản đã xoá bỏ cơ chế lưu thông cũ, chuyển sang cơ chế lưu thông mới, khắc phục tình trạng “ngăn sông, cấm chợ”, hình thành thị trường thống nhất ổn định và thông suốt trong cả nước.
Nếu như thương mại đã tạo được bước chuyển lớn thì việc chuyển sang nền kinh tế thị trư­ờng với ý chí tự lực, tự cường khai thác tiềm năng, tranh thủ sự hợp tác của bên ngoài, công nghiệp cũng đã có b­ước phát triển mới. Từ chỗ chỉ có vài nhà máy công nghiệp, hàng hoá không đủ đáp ứng nhu cầu đến nay chúng ta đã có những ngành công nghiệp xứng tầm quốc tế như dầu khí, điện, than, máy và thiết bị công nghiệp, máy động lực, máy nông nghiệp, thiết bị kỹ thuật điện, điện tử - tin học, dệt may, da giày, hoá chất… Hàng hoá không những đáp ứng cho nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới.
Về giá trị tổng sản lượng sản xuất công nghiệp, năm 1999 toàn ngành đã đạt 166.965 tỷ đồng bằng 445,2% so với năm 1986 và bằng 161,5% so với năm 1995. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP năm 1995 chiếm 21,85%, năm 1999 đã nâng lên 28,81%, năm 2003 đạt 40%, đóng góp trên 53% tốc độ tăng trư­ởng chung của cả nước. Tỷ lệ xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp đạt 70% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả n­ước. Như­ vậy, bắt đầu từ năm 2003, công nghiệp đã thực sự đóng vai trò đầu tầu trong nền kinh tế, với tỷ trọng cao nhất, tốc độ tăng t­rưởng cao nhất, xuất khẩu cao nhất.
Chặng đường hướng tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp
Tháng 7/2007, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ và số Phó Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, hợp nhất Bộ Công nghiệp với Bộ Thương mại thành Bộ Công Thương. Như vậy, kể từ thời điểm này, Bộ Công Thương đã chính thức được tái lập với tên gọi thuở ban đầu và chặng đường mới tiếp tục những nhiệm vụ quan trọng, là ngành xương sống, trụ cột của nền kinh tế.
Năm 2008, là năm mà ngành Công Thương phải thực hiện rất nhiều công việc sau tái lập, trong khi đó nền kinh tế lại gặp nhiều sóng gió như lạm phát tăng cao cùng với đó là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nhưng với truyền thống hơn nửa thế kỷ phấn đấu đi lên, ngành Công Thương tiếp tục đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành ước tăng 14,6% so với thực hiện năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước ước đạt xấp xỉ 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2007.
Bước sang năm 2009, đối mặt với sự suy giảm kinh tế toàn cầu, song giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành vẫn tăng 7,6% so với thực hiện năm 2008; tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước giảm 9,7% so với năm 2008.
Năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 14,0%, xuất khẩu đạt mức tăng trưởng 25,5%, nhập siêu đã dần được kiểm soát ở mức 17,27% so với năm 2009, ngành Công Thương tiếp tục khẳng định vai trụ cột của nền kinh tế.
Mặc dù trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, lạm phát tăng cao cùng với thiên tai dịch bệnh song giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành trong quí I/2011 vẫn đạt 198,7 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2010; Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 19,25 tỉ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2010với tỷ trọng nhập siêu/xuất khẩu là 15,7%.
Kết quả đó một lần nữa tiếp tục khẳng định vai trò của ngành Công Thương trong nền kinh tế. Ngành Công Thương đang chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2011, tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công mục tiêu đưa đất nước trở thành nước công nghiệp vào năm 2020./.
Hồng Dương


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại